Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 15

  • Hôm nay 1329

  • Tổng 12.570.315

Trách nhiệm và vai trò của ngành Công Thương ứng phó với biến đổi khí hậu

Font size : A- A A+

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi bất kỳ trạng thái khí hậu trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn thông qua sự thay đổi giá trị trung bình và/hoặc biến thiên các đặc tính như nhiệt độ, lượng mưa, gió…Biến đổi khí hậu bao gồm hiện tượng ấm lên toàn cầu và các hệ quả của hiện tượng này như băng tan, nước biển dâng…

 

Biến đổi khí hậu đang diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường. Nếu không có các hành động ứng phó kịp thời, biến đổi khí hậu sẽ là một trong những hiểm họa nghiêm trọng nhất đối với nhân loại.

Tại Việt Nam, giai đoạn 2001-2010, các loại thiên tai như bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm (Chiến lược Quốc gia về Biến đổi khí hậu, 2011). Các nghiên cứu quốc tế đã đánh giá Việt nam là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu
 
Ngành Công Thương chịu tác động của biến đổi khí hậu ở mức trung bình đến cao
 
Theo các kết quả nghiên cứu về biến đổi khí hậu cho thấy so với các ngành kinh tế khác, ngành Công Thương chịu tác động của biến đổi khí hậu ở mức trung bình đến cao. Với các ảnh hưởng cụ thể như sau:
 
Ngành, lĩnh vực, đối tượng
Các yếu tố tác động
Nhiệt độ tăng
Nước biển dâng
Bão và áp thấp nhiệt đới
Lũ lụt
Hạn hán
Các hiện tượng khí hậu cực đoan khác
Năng lượng
Cao
Trung bình
Trung bình
Trung bình
Cao
Trung bình
Công nghiệp
Cao
Cao
Trung bình
Trung bình
Trung bình
Trung bình
Tác động của biến đổi khí hậu tới ngành Công Thương
(Theo đánh giá của Chương trình MTQG ứng phó với BĐKH của Bộ TNMT năm 2007)
 
Hoạt động trong lĩnh vực năng lượng là các hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch (để sản xuất năng lượng, sử dụng trong các hoạt động cần nhiệt lượng). Tác động của biến đổi khí hậu đối với các hoạt động năng lượng gồm: Tăng thêm năng lượng tiêu hao cho bơm tiêu nước ở các vùng thấp ven biển; Tăng chi phí thông gió, làm mát, giảm hiệu suất, sản lượng của các nhà máy điện và các nhà máy sản xuất công nghiệp; Nhiệt độ tăng kèm theo lượng bốc hơi tăng kết hợp với sự thất thường trong chế độ mưa dẫn đến thay đổi lượng nước dự trữ và lưu lượng vào các hồ thủy điện. Biến đổi khí hậu theo hướng gia tăng cường độ và lượng mưa, bão, dông sét cũng ảnh hưởng trước hết đến hệ thống dàn khoan ngoài khơi, hệ thống vận chuyển dầu và khí vào bờ, hệ thống truyền tải và phân phối điện… Nghiên cứu của Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) cho thấy, khi nhiệt độ mùa hè tăng 10oC, thì phụ tải trong thời gian từ 9 giờ đến 16 giờ tăng cao hơn phụ tải ở các thời gian khác trong ngày là 2,2%/năm, nhu cầu sử dụng năng lượng cũng tăng lên 1%, đặc biệt trong lĩnh vực dân dụng và thương mại dịch vụ. Nhiệt độ tăng cũng khiến hiệu suất chu trình nhiệt tua-bin hơi nước giảm, gây lãng phí nhiên liệu. Khi nhiệt độ tăng 10oC, đối với tổ máy nhiệt điện than 300 MW, lượng than tiêu thụ tăng 0,5%, tương đương 4.500 tấn than/năm. Đối với nhà máy điện khí, khi nhiệt độ tăng 10oC thì công suất phát sẽ giảm 0,5%. Mưa bão thất thường và nước biển dâng tác động tiêu cực đến quá trình vận hành, khai thác hệ thống truyền tải và phân phối điện. Nước biển dâng ảnh hưởng trực tiếp đối với các giàn khoan, đường ống dẫn dầu và khí vào đất liền, cấp dầu và chuyên chở dầu. Mặt khác, do mưa lũ lớn bất thường, các hồ chứa nước của các công trình thủy điện không thể điều tiết theo quy trình, dẫn đến gia tăng nguy cơ đe dọa an toàn cho khu vực hạ lưu.
 
Đối với các quá trình công nghiệp, biến đổi khí hậu cũng gây những tác động không hề nhỏ. Cụ thể, các cơ sở công nghiệp đã được xây dựng nhiều ở vùng đồng bằng phải đối diện nhiều hơn với nguy cơ ngập lụt và thách thức trong thoát nước do lũ từ sông và mực nước biển dâng. Biến đổi khí hậu làm tăng khó khăn trong việc cung cấp nước và nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp như dệt may, chế tạo, khai thác và chế biến khoáng sản….Các điều kiện khí hậu cực đoan gia tăng cùng với thiên tai làm cho tuổi thọ của vật liệu, linh kiện, máy móc thiết bị và các công trình giảm đi, đòi hỏi những chi phí tăng lên để khắc phục. Do hạn hán thiếu nước tuyển rửa quặng, đất chay trong quặng lớn, chi phí sản xuất gang theo công nghệ lò cao tăng…Tuy nhiên, biến đổi khí hậu cũng tạo điều kiện cho các quá trình công nghiệp áp dụng các công nghệ mới sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới, thân thiện với điều kiện khí hậu hiện tại và tương lai.
 
Ảnh hưởng của BĐKH đến khai thác khoáng sản (Ảnh minh họa)
 
Biến đổi khí hậu có tác động trực tiếp đến cơ sở hạ tầng thương mại và dịch vụ. Dự tính đến năm 2060, trên phạm vi các tỉnh duyên hải, đồng bằng Sông Cửu Long, đồng bằng Sông Hồng và các tỉnh miền núi có 3 trung tâm Logistic, 5 kho hàng công, 15 tổng kho phân phối, 11 trung tâm phân phối hàng tiêu dùng, 1 trung tâm bán buôn chè sản phẩm chè và nông sản, 2 trung tâm bán cao su nguyên liệu, 1 trung tâm bán thuốc lá nguyên liệu, 1 Sở giao dịch hàng hóa nông lâm thủy sản và khoáng sản, 1 trung tâm phân phối nguyên phụ liệu dệt may & da giày, 1 trung tâm phân phối linh kiện lắp ráp ô tô, 1 trung tâm bán buôn lạc đậu và nông sản, 40 trung tâm thương mại, 80 siêu thị, 28 kho xăng dầu (Petrolimex) và 31 kho xăng dầu thuộc dự án ưu tiên đầu tư đến năm 2015, 54 chợ bán buôn bán lẻ hạng 1, 43 chợ đầu mối, 26 chợ (bao gồm các hạ tầng thương mại hiện có và các hạ tầng thuộc hiện quy hoạch mở rộng, xây mới) sẽ có khả năng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
 
Lĩnh vực năng lượng (hoạt động của ngành Công Thương) là nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất.
 
Sự tăng nồng độ của khí nhà kính là một trong những nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu.
 
Kiểm kê khí nhà kính tại Việt Nam được thực hiện trong bốn lĩnh vực: năng lượng, nông nghiệp, LULUCF và chất thải. Trong đó, các lĩnh vực năng lượng (đốt nhiên liệu, sản xuất năng lượng), các quá trình công nghiệp (các sản phẩm mỏ, công nghiệp hóa chất, sản xuất kim loại và các ngành sản xuất khác) là có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động ngành Công Thương.
 
Theo kết quả kiểm kê quốc gia khí nhà kính năm 2010, tổng lượng phát thải khí nhà kính tại Việt Nam là 246,8 triệu tấn CO2 tương đương bao gồm lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) và 266 triệu tấn CO2 tương đương không bao gồm LULUCF. Phát thải nhà kính trong lĩnh vực năng lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất là 53,05% của tổng lượng phát thải không tính LULUCF, tiếp theo là lĩnh vực nông nghiệp chiếm 33,20% . Phát thải từ các quá trình công nghiệp và chất thải tương ứng là 7,97% và 5,78%.
 
Trong giai đoạn 1994-2010, tổng lượng phát thải khí nhà kính ở Việt Nam (bao gồm LULUCF) tăng nhanh từ 103,8 triệu tấn CO2 tương đương lên đến 246,8 triệu tấn CO2 tương đương, trong đó lĩnh vực năng lượng tăng nhanh nhất từ 25,6 triệu tấn CO2 tương đương lên 141,1 triệu tấn CO2 tương đương và cũng là lĩnh vực phát thải nhiều nhất năm 2010.
 
Phát thải/hấp thụ khí nhà kính các năm 1994, 2000 và 2010 theo các lĩnh vực
 
Ước tính tổng lượng phát thải khí nhà kính trong bốn lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, LULUCF và chất thải vào năm 2020 là 466 triệu tấn CO2 tương đương và vào năm 2030 tăng lên 760,5 triệu tấn CO2 tương đương. Lĩnh vực năng lượng vẫn là nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất.
 
Phát thải/hấp thụ khí nhà kính năm 2010 và ước tính cho các năm 2020 và 2030
 
Các hành động của ngành Công Thương góp phần giảm nhẹ phát thải khí nhà kính
 
Theo Báo cáo cập nhật lần thứ nhất của Việt Nam cho Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu, dựa trên các ước tính phát thải khí nhà kính đến năm 2030, Việt Nam đã xây dựng các phương án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (KNK) trong từng lĩnh vực cụ thể, trong đó có 6 phương án giảm nhẹ KNK trong lĩnh vực năng lượng, tập trung vào việc triển khai công nghệ tiết kiệm năng lượng và năng lượng tái tạo. Cụ thể là sử dụng điều hòa nhiệt độ có hiệu suất cao có tiềm năng giảm phát thải là 39,1 triệu tấn CO2 tương đương; chuyển đổi sử dụng LPG thay xăng trong giao thông vận tải có tiềm năng giảm phát thải là 4,7 triệu tấn CO2 tương đương; chuyển đổi sử dụng ethanol thay xăng trong giao thông vận tải có tiềm năng giảm phát thải là 12,3 triệu tấn CO2 tương đương; phát triển nhiệt điện sinh khối có tiềm năng giảm phát thải là 57,3 triệu tấn CO2 tương đương; phát triển thủy điện nhỏ có tiềm năng giảm phát thải là 55,7 triệu tấn CO2 tương đương; phát triển điện gió có tiềm năng giảm phát thải là 68,1 triệu tấn CO2
 
Cùng với việc triển khai các phương án giảm nhẹ phát thải KNK như trên, Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương đã xây dựng Hồ sơ đề xuất Hành động Giảm thiểu phù hợp với quốc gia (NAMA) “Quỹ phát triển năng lượng tái tạo - Cơ chế GET FiT Việt Nam ” để xem xét hỗ trợ thực hiện. Dự án này sẽ hỗ trợ thúc đẩy đầu tư công và tư vào ngành năng lượng tái tạo nhằm đạt được mục tiêu về phát triển năng lượng tái tạo trong Quy hoạch điện, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.
 
Đối với Chương trình phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, Bộ Công Thương đã chủ trì xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, điện sinh khối, điện từ chất thải rắn và đang tiếp tục cho lĩnh vực năng lượng mặt trời. Nhiên liệu sinh học là một dạng năng lượng mới được để thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch truyền thống, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường. Ngoài ra còn các chương trình áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp và các chương trình khuyến công cũng được Bộ Công Thương tích cực triển khai.
 
Bên cạnh đó, theo Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu của Bộ Công Thương cho biết: Trong thời gian quan, Bộ đã triển khai 11 nhiệm vụ, dự án tuyên truyền, đào tạo nâng cao nhận thức, năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu; 14 dự án đánh giá của biến đổi khí hậu, nước biển dâng ảnh hưởng đến các lĩnh vực thuộc ngành công thương; 9 dự án xây dựng và đề xuất các giải pháp cơ chế, chính sách, rà soát, lồng ghép ứng phó biến đổi khí hậu và kế hoạch phát triển ngành công thương; 9 dự án nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, kiểm soát phát thải khí nhà kính cho ngành công thương; 5 dự án hỗ trợ hoạt động quản lý chương trình của Bộ Công Thương và dự án thí điểm áp dụng mô hình giảm phát thải khí nhà kính trong công nghiệp.
 
Mặc dù bước đầu ngành Công Thương đã đạt được những kết quả nhất định trong hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu nhưng vai trò và đóng góp của ngành trong việc giảm nhẹ tác động của BĐKH còn mờ nhạt và chưa thật sự rõ nét. Cụ thể, các văn bản quy định liên quan đến mục tiêu giảm nhẹ tác động của BĐKH cũng như tác động của ngành đến BĐKH, các kế hoạch thực hiện để đạt đến mục tiêu này chưa được xây dựng một cách tổng thể và đầy đủ, dẫn đến các hoạt động thực hiện còn hạn chế, khó có thể khai thác hết các tiềm năng tài chính do các hoạt động ứng phó BĐKH mang lại. Các sản phẩm và phương pháp thực hiện chưa được chia sẻ rộng rãi để có thể kế thừa, phát triển tiếp, và nhanh chóng tiếp cận các cơ hội về BĐKH của ngành.
 
Hiện tại chưa có các hoạt động trực tiếp hỗ trợ kỹ thuật và tài chính giữa Bộ Công Thương và các đơn vị thuộc Sở Công Thương trong việc hướng dẫn, thực hiện các hoạt động về BĐKH. Trong thời gian tới, khi các kế hoạch hành động BĐKH sẽ được tiếp tục cập nhật tại các địa phương thì vai trò của các Sở Công Thương là rất quan trọng. Sở Công Thương sẽ góp phần đánh giá tác động của BĐKH đến hoạt động ngành công thương cũng như đánh giá tác động của ngành công thương đến BĐKH và đề xuất các giải pháp thích ứng, giảm nhẹ cho ngành để cập nhật kế hoạch hành động BĐKH của địa phương cũng như các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
 
Bởi vậy, trong thời gian tới, cùng với sự tham gia của các ngành thực hiện các hành động ứng phó với BĐKH, ngành Công Thương nói riêng cần nhìn nhận rõ trách nhiệm của mình trong việc ứng phó với BĐKH, đưa ra các khung chính sách và hoạt động cụ thể, rõ ràng để ứng phó với BĐKH, đặc biệt ưu tiên nhiệm vụ giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững của toàn ngành nói riêng và hướng tới một nền “Công nghiệp xanh”, nền kinh tế “Các bon thấp” tại Việt Nam nói chung. Tích cực cùng cộng đồng thế giới phấn đấu thực hiện mục tiêu cuối cùng của Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và giữ cho nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng không quá 2oC vào cuối thế kỷ này.
 
TH: Quỳnh Trang - KHTC

More