Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 3

  • Hôm nay 371

  • Tổng 12.527.753

Giá trị của làng nghề đối với việc giải quyết việc làm cho lao động nông thôn

Font size : A- A A+

 

Trong lộ trình xây dựng Quảng Bình trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, việc phát triển làng nghề ở nông thôn là điều kiện cần thiết để đưa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh tiến tới công nghiệp hóa cũng như hoàn thiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Trong đó, đẩy mạnh phát triển các làng nghề không những giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập cho người lao động mà còn tránh được sự nhàn rỗi lao động dư thừa trong nông thôn hiện nay. 


Làng nghề nón lá huyện Quảng Trạch

 

Các làng nghề vốn là một mô hình kinh tế đã hình thành từ lâu đời, dựa trên những giá trị riêng biệt của mỗi địa phương, có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Theo thống kê, toàn tỉnh hiện có khoảng 29 làng nghề lớn, nhỏ, trong số đó một số làng nghề truyền thống vẫn được duy trì và phát huy giá trị vốn có, tạo nên bản sắc văn hóa riêng biệt cũng như góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn, đặc biệt là lao động nhàn rỗi ở địa phương. Nổi bật có các làng nghề: Nón lá truyền thống Hạ Thôn, xã Quảng Tân (huyện Quảng Trạch) thu hút 850 hộ với 2.100 lao động, tạo thu nhập ổn định bình quân 2,2 triệu đồng/người/tháng; làng nghề nón lá truyền thống Quy Hậu, xã Liên Thủy (huyện Lệ Thủy) thu hút 1.600 hộ với hơn 1.600 lao động; làng nghề chế biến bún bánh mè xát Tân An, xã Quảng Thanh (huyện Quảng Trạch) thu hút 232 hộ với 460 lao động.

 

Để tạo đà cho các sản phẩm làng nghề phát triển ổn định, tỉnh đã đăng ký nhãn hiệu cho các cơ sở làng nghề như: Hợp tác xã (HTX) sản xuất kinh doanh rượu làng nghề Võ Xá, xã Võ Ninh (huyện quảng Ninh), Hợp tác xã bánh mè xát Tân An, xã Quang Thanh (huyện Quảng Trạch); Hội nước mắm Nhân Trạch (huyện Bố Trạch) được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể. Năm 2018, một số sản phẩm của cơ sở làng nghề đã được bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu như sản phẩm mây xiên đan mắt cáo (HTX mây tre đan Quảng Tiến); sản phẩm Khoai deo Hải Ninh (HTX Sản xuất và Chế biến khoai deo Hải Ninh); sản phẩm bánh mè xát (HTX làng nghề bánh mè xát Tân An).

 

Ngoài ra, chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề cũng được tỉnh thực hiện thông qua hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề, truyền nghề, nâng cao tay nghề và phát triển nghề theo hình thức liên kết giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp (như đào tạo nghề may công nghiệp); cơ sở tự đào tạo nghề, truyền nghề (các lớp nón lá, chổi đót, mây xiên, mộc mỹ nghệ, cơ khí, chế biến thủy sản, mây, tre đan); mời chuyên gia đào tạo nghề, truyền nghề, nâng cao tay nghề và phát triển nghề mới… Bên cạnh đó, một số địa phương còn khuyến khích các tổ chức xã hội tham gia hoạt động sản xuất nhằm bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hóa ở địa phương như Hội Người cao tuổi, Hội Phụ nữ...


 

Hợp tác xã sản xuất kinh doanh rựu Võ Xã, xã Võ Ninh (huyện Quảng Ninh)

 

Có thể nói, ngành nghề nông thôn, làng nghề đã có sự phát triển, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho lao động nông thôn. Các cơ sở ngành nghề nông thôn đã tạo ra sản phẩm hàng hóa ngày càng phong phú, từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của Nhân dân trên địa bàn, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Cùng với việc tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có ở trong tỉnh, một số cơ sở đã mạnh dạn đầu tư máy móc, áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. Công tác xây dựng thương hiệu, đăng ký nhãn hiệu đã được các cơ sở làng nghề quan tâm. Hoạt động truyền nghề, nâng cao tay nghề và phát triển nghề ngày càng được liên kết chặt chẽ giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp.

 

Tuy nhiên, việc phát triển, mở rộng các làng nghề tại nông thôn hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn. Các làng nghề chủ yếu ở mức độ sản xuất nhỏ lẻ; công tác đào tạo nghề đối với cán bộ quản lý, doanh nghiệp, nghệ nhân, thợ còn chưa đúng tầm, vấn đề ô nhiễm môi trường các làng nghề vẫn còn xảy ra; làng nghề nông thôn phát triển còn chậm, mang tính tự phát ở quy mô nhỏ lẻ, chưa có định hướng, sử dụng công nghệ trang thiết bị lạc hậu, chất lượng sản phẩm chưa cao và kém sức cạnh tranh, không chú trọng xây dựng thương hiệu, sản phẩm lưu niệm phục vụ du lịch; cơ sở ngành nghề nông thôn đang thiếu vốn, nhiều cơ sở chưa mạnh dạn đầu tư để sản xuất. Ngoài ra, lao động ngành nghề nông thôn chủ yếu chưa qua đào tạo, lao động có tay nghề cao còn thiếu, một số chương trình đào tạo nghề chưa có chiều sâu; công tác đào tạo nghề, truyền nghề đã được quan tâm chỉ đạo nhưng kết quả đạt được chưa cao; việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất trong ngành nghề nông thôn còn hạn chế; nghề truyền thống đang có nguy cơ mai một do sự cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp.

 


 

Hợp tác xã bánh mè xát Tân An, xã Quang Thanh (huyện Quảng Trạch)

 

Để duy trì và phát triển ổn định cho các làng nghề phát triển đến năm 2023, tỉnh có chủ trương củng cố, giữ vững, hiện đại hóa các làng nghề - tiểu thủ công nghiệp hiện, đồng thời khôi phục các làng nghề truyền thống, xây dựng làng nghề mới ở hộ gia đình, phường xã nhằm khắc phục dần tình trạng thuần nông; khuyến khích, tăng cường đầu tư trang thiết bị tiên tiến cho các làng nghề, có kết hợp với công nghệ kỹ thuật truyền thống; phát triển làng nghề theo hướng hình thành các cụm công nghiệp quy mô nhỏ và vừa; đẩy mạnh liên kết sản xuất, khuyến khích thành lập mới các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác nâng cao năng lực sản xuất, chú trọng xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, góp phần thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới và chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” trên địa bàn tỉnh; bảo tồn và phát triển nghề truyền thống, phát triển thêm nghề mới phù hợp với từng địa phương để đa dạng hóa sản phẩm ngành nghề.

 

Ngoài ra, tỉnh phấn đấu đến năm 2023, tốc độ tăng trưởng bình quân đưa giá trị sản xuất ngành nghề nông thôn giai đoạn 2019 - 2023 đạt 2,5 - 03%; hàng năm thu hút giải quyết việc làm khoảng 1.400 lao động, đưa số lao động sản xuất khu vực nông nghiệp nông thôn đạt 50.219 người; mỗi huyện, thị xã, thành phố có ít nhất 05 sản phẩm ngành nghề nông thôn tham gia vào chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (chương trình OCOP) và được công nhận là sản phẩm OCOP từ hạng 3 sao trở lên; hàng năm chỉ đạo xây dựng, công nhận từ 01 - 02 làng nghề theo tiêu chí quy định tại Nghị định 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ, phấn đấu đến hết năm 2023 toàn tỉnh có 35 - 40 làng nghề, làng nghề truyền thống được công nhận.

 

https://www.quangbinh.gov.vn/3cms/gia-tri-cua-lang-nghe-doi-voi-viec-giai-quyet-viec-lam-cho-lao-dong-nong-thon.htm

Theo Đặng Hà (Nguông Cổng TTĐT QB) 

More