Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 1

  • Hôm nay 1145

  • Tổng 12.570.131

Người phát ngôn Bộ Công Thương trả lời một số vấn đề được dư luận, báo chí quan tâm

Font size : A- A A+

Bộ Công Thương xin trân trọng giới thiệu nội dung trả lời của Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải – Người phát ngôn của Bộ Công Thương đối với một số vấn đề mà báo chí và dư luận quan tâm: 

 

Câu 1: Trên một số phương tiện thông tin đại chúng gần đây có đăng tải ý kiến đánh giá, kiến nghị của một số doanh nghiệp về vấn đề quota xuất khẩu gạo (thực chất là các tiêu chí, điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo). Vậy, xin cho biết quan điểm của Bộ Công Thương về vấn đề này?


Trả lời:


Trước đây, theo Cơ chế quy định tại Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ, thương nhân thuộc các thành phần kinh tế đều được xuất khẩu gạo, không quy định điều kiện kinh doanh đối với xuất khẩu gạo. Cơ chế này, bên cạnh khía cạnh tích cực là sự tự do, thông thoáng, cũng đã bộc lộ nhiều bất cập như không xác định rõ trách nhiệm của thương nhân với các nhiệm vụ chính trị và kinh tế của đất nước, với người nông dân sản xuất lúa gạo, với việc bình ổn giá thu mua lúa cho người nông dân và giá bán gạo cho người tiêu dùng trong nước. Nhiều doanh nghiệp không có kho tàng, không có cơ sở chế biến, không chủ động thu mua, dự trữ, không kinh doanh chuyên sâu ngành lương thực, chỉ tham gia xuất khẩu khi thị trường thuận lợi. Kinh doanh xuất khẩu gạo chỉ thực hiện được phần ngọn của quá trình sản xuất, tiêu thụ lúa gạo; khi doanh nghiệp ký được hợp đồng mới tổ chức thu mua, gây bất ổn thị trường. Từ đó, dẫn tới tình trạng tới mùa thu hoạch nếu thị trường khó khăn, nông dân lại rơi vào tình cảnh “được mùa, rớt giá”.


Vì vậy, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 11 năm 2010 về kinh doanh xuất khẩu gạo nhằm thiết lập hành lang pháp lý khắc phục các bất cập, hạn chế trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo. Nghị định đã quy định các điều kiện kinh doanh để sàng lọc, định hướng thương nhân đầu tư lâu dài phục vụ kinh doanh xuất khẩu gạo; gắn trách nhiệm của thương nhân với việc tiêu thụ lúa gạo cho người sản xuất, góp phần khắc phục tình trạng “được mùa, rớt giá”, đảm bảo an ninh lương thực, bình ổn thị trường nội địa, hướng đến mục tiêu phát triển sản xuất, xuất khẩu gạo bền vững.


Thực tế quá trình thực hiện Nghị định đến nay cho thấy, việc quy định các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo đã phát huy tác dụng tích cực; đã sàng lọc được những thương nhân có năng lực, có định hướng đầu tư lâu dài phục vụ lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu gạo; bảo đảm chủ động nguồn hàng, nâng cao năng lực thu mua, tạm trữ, bảo quản, chế biến; nâng cao chất lượng gạo hàng hóa xuất khẩu và khả năng chủ động nguồn hàng phục vụ cho các hợp đồng xuất khẩu, nhờ đó, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt. Mặt khác, thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo cũng góp phần tích cực tiêu thụ lúa gạo hàng hóa cho người nông dân, góp phần bảo đảm ổn định thị trường lúa gạo trong nước.


Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, cũng cho thấy một số vấn đề cần được điều chỉnh như nhiều thương nhân tiếp tục đầu tư xây dựng kho chứa, cơ sở xay xát để được cấp Giấy chứng nhận, có thể dẫn tới một cuộc “chạy đua” đầu tư gây lãng phí cho đầu tư xã hội, số lượng thương nhân đề nghị cấp Giấy chứng nhận ngày càng tăng. Trong khi đó, năng lực, hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo của nhiều thương nhân còn hạn chế, năng lực thương mại yếu, không tiếp cận được thị trường. Việc xây dựng vùng nguyên liệu, tổ chức thu mua, tiêu thụ lúa gạo hàng hóa cho người sản xuất còn bất cập.


Trước tình hình trên, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan xây dựng, ban hành Quy hoạch thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo (kèm theo Quyết định số 6139/QĐ-BCT ngày 28 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Công Thương), xác định cụ thể các tiêu chí, điều kiện để được cấp và duy trì Giấy chứng nhận, trong đó, có tiêu chí kho chứa, cơ sở xay, xát thóc, gạo để đáp ứng điều kiện kinh doanh được quy hoạch trên địa bàn 13 tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Thái Bình, Hưng Yên. Các tiêu chí này nhằm hướng đầu tư hiệu quả, ngăn ngừa tình trạng đầu tư, dàn trải, kém hiệu quả gây lãng phí cho đầu tư của doanh nghiệp và xã hội. Để nâng cao chất lượng lúa gạo hàng hóa, gắn sản xuất với tiêu thụ, xuất khẩu, Bộ Công Thương đã ban hành Lộ trình xây dựng vùng nguyên liệu hoặc thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ thóc, gạo của thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo giai đoạn 2015-2020 kèm theo Quyết định số 606/QĐ-BCT ngày 21 tháng 01 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Công Thương. Đây cũng là chủ trưởng, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ để góp phần ổn định sản xuất, xuất khẩu lúa gạo của nước ta; là một giải pháp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, góp phần khắc phục những bất cập trong sản xuất, tiêu thụ lúa gạo hiện nay, mang lại những lợi ích cụ thể, bền vững cho cả người nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu.


Tuy nhiên, thực tế hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo thời gian qua, có một số doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu các mặt hàng gạo đặc sản, chất lượng cao nhưng số lượng xuất khẩu chưa nhiều. Việc đầu tư xây dựng ngay kho chứa, cơ sở xay xát ở quy mô lớn sẽ không hiệu quả và rủi ro. Một vài doanh nghiệp tại một số địa phương không nằm trong vùng quy hoạch (như Nghệ An, Hà Nam, Ninh Bình) đã đầu tư, xây dựng kho chứa, cơ sở xay, xát thóc, gạo và gửi hồ sơ đề nghị được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo.


Đây là những vấn đề thực tiễn phát sinh mà dưới góc độ cơ chế, chính sách, Bộ Công Thương xin ghi nhận những ý kiến này và sẽ rà soát, đánh giá quá trình thực hiện các cơ chế, quy định hiện hành để đề xuất những giải pháp xử lý, điều chỉnh phù hợp nhằm tạo thuận lợi, phát huy tối đa năng lực sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp và đáp ứng yêu cầu công tác điều hành hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo trong thời gian tới.


Câu 2: Trong năm 2015, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng hoạt động xuất nhập khẩu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Xin Bộ Công Thương cung cấp một số thông tin về việc kiểm soát nhập siêu?


Trả lời:


Đánh giá tổng thể diễn biến tình hình năm 2015, nhập siêu được kiểm soát tốt và có xu hướng giảm dần. Trong Quý I, nhập siêu ở mức 2,6 tỷ USD. Nhập siêu Quý II giảm xuống ở mức khoảng 1 tỷ USD và nhập siêu Quý III ở mức 218 triệu USD. Trong 11 tháng năm 2015, nhập siêu được kiểm soát ở mức khoảng 3,78 tỷ USD, bằng 2,5% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đây là kết quả của việc triển khai kịp thời, đồng bộ các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu và kiềm chế nhập siêu trong thời gian qua.


Dự kiến cả năm 2015, nhập siêu ước khoảng 4 tỷ USD, bằng khoảng 2,4% kim ngạch xuất khẩu, thấp hơn chỉ tiêu Quốc hội thông qua là 5%.


Tăng trưởng xuất khẩu 11 tháng năm 2015 không cao như kế hoạch đề ra do kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản và nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản giảm mạnh so với cùng kỳ. Tính chung hai nhóm hàng này, kim ngạch xuất khẩu 11 tháng đã giảm 5,4 tỷ USD, trong khi xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng khoảng 16,56 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2014.


Nguyên nhân của sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông thủy sản là do nguồn cung của các nước xuất khẩu dồi dào, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, đặc biệt là cạnh tranh từ Thái Lan, Ấn Ðộ; chính sách duy trì giá trị đồng nội tệ thấp để thúc đẩy xuất khẩu của nhiều quốc gia; xu hướng bảo hộ đối với mặt hàng nông, lâm, thủy sản của các nước gia tăng.


Tuy nhiên, trong những tháng cuối năm 2015, xuất khẩu một số mặt hàng nông thủy sản như thủy sản, gạo đã có sự tăng trưởng trở lại, liên tục đạt mức tăng trưởng tháng sau cao hơn tháng trước, tuy không đủ để kéo mức tăng trưởng chung của cả năm nhưng đây là những tín hiệu khả quan thể hiện sự phục hồi, nỗ lực vượt khó khăn và cho thấy khả năng tiếp tục tăng trưởng xuất khẩu của những mặt hàng này trong thời gian tới.


Xuất khẩu của nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao (khoảng 16,5%). Một số mặt hàng có kim ngạch lớn và tốc độ tăng trưởng khá gồm điện thoại các loại và linh kiện đạt 28,47 tỷ USD, tăng 29,6%; dệt may đạt 20,65 tỷ USD, tăng 9,1%; máy vi tính, linh kiện điện tử đạt 14,31 tỷ USD, tăng 38%; da giày đạt 10,75 tỷ USD, tăng 16,3%.


Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác như: đồ gỗ; túi xách, vali, mũ, ô dù; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác vẫn giữ mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung đã đóng góp lớn vào tăng trưởng xuất khẩu chung 11 tháng.


Cán cân thương mại được duy trì ở mức 3,78 tỷ USD, bằng 2,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, nằm trong chỉ tiêu Quốc hội đề ra năm 2015.


Câu 3: Liên quan đến dự thảo dự án Pháp lệnh Quản lý thị trường, xin Bộ Công Thương cho biết nguyên nhân tại sao phải thay đổi mô hình tổ chức và hoạt động của Quản lý thị trường?


Trả lời:


Đến nay, qua gần 60 năm xây dựng và phát triển, nhiều lần thay đổi tên gọi, tổ chức theo yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng, bám sát sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương, cấp ủy và chính quyền địa phương, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, lực lượng Quản lý thị trường đã không ngừng phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao, trở thành lực lượng chủ công trong kiểm tra, kiểm soát thị trường nội địa, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, ổn định thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (từ năm 1995 đến tháng 6 năm 2015, lực lượng Quản lý thị trường cả nước đã tiến hành kiểm tra 3.310.631 vụ việc, xử lý 1.546.237 vụ việc, trong đó 942.270 vụ buôn bán, vận chuyển hàng cấm, hàng nhập lậu; 625.583 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả, 711.926 vụ kinh doanh trái phép, 39.572 vụ vi phạm về giá, 98.014 vụ trốn thuế và các vụ việc vi phạm khác; thu nộp ngân sách 4.623 tỷ đồng, trong đó 2.278 tỷ đồng phạt hành chính, 1.745 tỷ đồng bán hàng tịch thu và gần 129 tỷ đồng truy thu thuế...). Bên cạnh những kết quả đạt được như đã nêu trên, cơ cấu tổ chức của Quản lý thị trường hiện nay vẫn còn có những hạn chế, bất cập được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:


Một là, mô hình tổ chức Quản lý thị trường cắt khúc như hiện nay chưa thực sự phát huy được hiệu quả của công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý hoạt động của quản lý thị trường các cấp


Việc xây dựng, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương chưa được thực hiện một cách đồng bộ và kịp thời giữa các cấp, dẫn đến kết quả đấu tranh trên phạm vi toàn quốc chưa ngang tầm với nhiệm vụ, chức trách được giao.


Hoạt động buôn lậu, buôn bán hàng cấm, sản xuất và tiêu thụ hàng giả, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và các gian lận thương mại khác diễn biến ngày càng phức tạp cả về tính chất lẫn quy mô. Kiểm tra, kiểm soát nắm bắt diễn biến thị trường, phát hiện, xử lý vi phạm hành chính của Quản lý thị trường là hoạt động thường xuyên và diễn ra trên địa bàn cả nước để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Thực tế cho thấy hoạt động này ở mỗi địa phương là khác nhau về mức độ, tần suất, hiệu quả... và có sự cắt khúc giữa các địa phương dẫn tới có lúc, có nơi chưa giải quyết kịp thời những phát sinh đột xuất, phức tạp của thị trường hàng hóa nên phần nào ảnh hưởng đến sự ổn định của thị trường. Trong điều kiện ngày càng nhiều các đường dây, ổ nhóm có tổ chức chặt chẽ và hoạt động tinh vi diễn ra trên địa bàn liên tỉnh, toàn quốc, việc tổ chức phối hợp, điều động lực lượng tập trung triệt phá các đường dây, ổ nhóm này gặp nhiều khó khăn, công tác phối hợp giữa Quản lý thị trường các cấp chưa chặt chẽ, kịp thời; hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường bị cô lập, cắt khúc theo địa giới hành chính trong khi thị trường là liên thông. Đối với các vụ việc phức tạp, có tổ chức, diễn ra trên địa bàn liên tỉnh đòi hỏi phải có sự chỉ đạo thống nhất trong việc tổ chức kiểm tra, xử lý vi phạm giữa Quản lý thị trường của các tỉnh.


Vì vậy, để giải quyết được các bất cập nêu trên góp phần ổn định thị trường và phát triển kinh tế, xã hội đòi hỏi cần có sự chỉ đạo, quản lý tập trung, thống nhất và xuyên suốt từ trung ương đến địa phương.


Hai là, với mô hình tổ chức cơ quan Quản lý thị trường theo địa bàn hành chính hiện nay, những quy định hiện hành về tổ chức, quản lý, sử dụng, bổ nhiệm, chuyển đổi vị trí công tác của công chức Quản lý thị trường chưa được tuân thủ một cách đầy đủ ảnh hưởng đến trách nhiệm thực thi công vụ và khả năng phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng.


Mặc dù nhu cầu chuẩn hóa nhằm nâng cao chất lượng cho đội ngũ công chức ngày càng cấp thiết nhưng việc quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ cho đội ngũ công chức quản lý thị trường ở địa phương mỗi nơi mỗi khác và không theo kịp định hướng chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương và những đòi hỏi phát sinh từ thực tiễn phát triển của kinh tế thị trường. Về công tác tổ chức bộ máy, cán bộ, trên cơ sở quy định chung, Nghị định số 10/CP, Nghị định số 27/2008/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định về thẩm quyền thành lập đơn vị; điều kiện, tiêu chuẩn xem xét, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển công chức. Tuy nhiên, trong nhiều năm tình trạng áp dụng, thực hiện quy định này không thống nhất như cùng một tổ chức là Đội Quản lý thị trường hay một chức danh lãnh đạo Quản lý thị trường địa phương có tỉnh thì do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định hoặc thành lập, có nơi thì do Sở Công Thương ra quyết định hoặc thành lập; hay tình trạng một chức danh cấp Phòng, Đội Quản lý thị trường thuộc Chi cục, có nơi do Giám đốc Sở Công Thương bổ nhiệm, điều động công tác, có nơi do Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường bổ nhiệm, điều động... Việc thực hiện luân chuyển công chức theo quy định tại Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 150/2013/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ chỉ được tiến hành trong phạm vi nội bộ Chi cục Quản lý thị trường các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nên phần nào hạn chế đến mục đích chủ động phòng ngừa tham nhũng tiêu cực trong toàn lực lượng. Tại một số địa phương xuất hiện những biểu hiện bảo kê, tiêu cực của công chức Quản lý thị trường trong thực thi công vụ, làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của Quản lý thị trường, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động.


Ba là, mô hình tổ chức hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu phối hợp lực lượng và hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.


Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm gia tăng thêm nhiều hành vi vi phạm của thương nhân nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam cùng với sự liên kết chặt chẽ của thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài. Thực tiễn đó đòi hỏi phải có sự phối hợp đấu tranh giữa các lực lượng kiểm tra, kiểm soát thị trường Việt Nam với các nước bạn, đặc biệt là các nước có chung biên giới trong việc chia sẻ thông tin, hỗ trợ xác minh đối tượng, phối hợp đấu tranh phòng, chống vi phạm, ngăn chặn các tổ chức hoạt động trên địa bàn liên quốc gia đảm bảo sự nhanh chóng, chính xác, kịp thời trong cung cấp thông tin và phối hợp hành động. Bên cạnh đó, trong công tác đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại trên thị trường nội địa, lực lượng Quản lý thị trường giữ vai trò chủ công, thường xuyên phải phối hợp nhiều lực lượng như: Công an, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Thuế... Mặc dù vậy, do mô hình tổ chức chưa phù hợp và địa vị pháp lý chưa tương xứng nên hiệu quả công tác phối hợp trong chỉ đạo, điều hành kiểm tra kiểm soát thị trường và đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật thương mại giữa Quản lý thị trường và các lực lược chức năng còn nhiều hạn chế.


Như vậy, đánh giá từ các khía cạnh địa vị pháp lý và thực tiễn hoạt động, so với các cơ quan, lực lượng có chức năng kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính đối với vi phạm pháp luật thương mại ở thị trường trong nước, hệ thống cơ quan Quản lý thị trường nếu được hoàn thiện, củng cố sẽ nâng cao vị thế, có vị trí tương xứng với các cơ quan, lực lượng chức năng khác trong việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật về thương mại ở thị trường trong nước.


Chính vì vậy, mặc dù đạt được một số kết quả bước đầu và đáng khích lệ nhưng mô hình tổ chức và hoạt động của Quản lý thị trường hiện nay đã và đang bộc lộ những bất cập, chưa thích ứng và phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế. Nguyên nhân chủ yếu là do lực lượng Quản lý thị trường hoạt động phân tán, cắt khúc theo vùng lãnh thổ, chưa được tổ chức theo mô hình ngành dọc từ trung ương đến địa phương, làm phân tán lực lượng, tính cơ động không cao, hạn chế công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả. Đồng thời, không tạo được sự tập trung quản lý, chỉ đạo, điều hành thông suốt trong toàn ngành, đặc biệt là khả năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, ứng phó kịp thời đối với các diễn biến bất thường, ảnh hưởng đến sự ổn định của thị trường.


Trước những bất cập nêu trên và yêu cầu thực tiễn, đòi hỏi phải tổ chức lại lực lượng Quản lý thị trường theo hướng thống nhất từ trung ương đến địa phương để có được sức mạnh mới, sẵn sàng thực hiện và làm tốt nhất trách nhiệm của mình trong công tác chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại trong điều kiện hội nhập kinh tế, thị trường ngày càng diễn biến phức tạp hơn.


Câu 4: Trong thời gian qua, trên một số phương tiện truyền thông có phản ánh về vấn đề các doanh nghiệp phân bón kiến nghị sửa đổi Nghị định số 202/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về quản lý phân bón.
Xin Bộ Công Thương cho biết quan điểm về vấn đề này?


Trả lời:


Nghị định số 202/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về quản lý phân bón (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 2 năm 2014). Nghị định số 202/2013/NĐ-CP thay thế Nghị định số 113/2003/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ quy định quản lý sản xuất, kinh doanh phân bón và Nghị định số 191/2007/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 113/2003/NĐ-CP.


Tính đến nay, công tác quản lý nhà nước về phân bón đã triển khai thực hiện được hơn một năm. Theo quy định của Nghị định số 202/2013/NĐ-CP thì Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng tham gia quản lý nhà nước về phân bón:


- Bộ Công Thương quản lý sản xuất, kinh doanh bón vô cơ; chỉ định, quản lý hoạt động các phòng thử nghiệm phân bón vô cơ.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý sản xuất, kinh doanh phân bón hữu cơ, phân bón khác; chỉ định, quản lý hoạt động các phòng thử nghiệm phân bón hữu cơ và phân bón khác; hướng dẫn sử dụng phân bón, khảo nghiệm phân bón; tổ chức đào tạo người lấy mẫu phân bón.


Trên cơ sở của Nghị định số 202/2013/NĐ-CP:
- Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 29/2014/TT-BCT ngày 30 tháng 9 năm 2014 quy định cụ thể và hướng dẫn thực hiện một số điều về phân bón vô cơ, hướng dẫn việc cấp phép sản xuất phân bón vô cơ đồng thời sản xuất phân bón hữu cơ và phân bón khác tại Nghị định số 202/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về quản lý phân bón có hiệu lực thi hành ngày 27 tháng 11 năm 2014;


- Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 41/2014/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 11 năm 2014 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 202/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về quản lý phân bón.


Như vậy, việc triển khai thực hiện Nghị định số 202/2013/NĐ-CP đã được hướng dẫn, quy định cụ thể ở 2 Thông tư nêu trên theo đúng chức năng, nhiệm vụ của hai Bộ.


Trong quá trình xây dựng Nghị định số 202/2013/NĐ-CP để thay thế Nghị định số 113/2003/NĐ-CP và Nghị định số 191/2007/NĐ-CP, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức hội thảo và lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh phân bón. Ý kiến đóng góp của các tổ chức, cá nhân đã được nghiên cứu để chỉnh lý hoàn thiện dự thảo Nghị định trước khi trình Chính phủ ban hành.


Quản lý phân bón là một quá trình từ trước đến nay. Việc thay đổi cơ chế, chính sách, cách thức quản lý cũng sẽ gặp phải phản ứng nhiều chiều từ địa phương, doanh nghiệp cũng như người dân. Với hơn một năm triển khai Nghị định số 202/2013/NĐ-CP, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã nhận được một số kiến nghị của doanh nghiệp xung quanh việc thực hiện Nghị định. Các kiến nghị đã được trả lời và hướng dẫn thực hiện. Tuy nhiên, để thấy được những mặt hạn chế, vướng mắc của Nghị định này thì các quy định của Nghị định phải được áp dụng trong thực tế với khoảng thời gian nhất định đủ để tổng kết, đánh giá được tình hình thực hiện phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 202/2013/NĐ-CP trong thời gian tới. Hiện Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang thực hiện việc cấp phép sản xuất phân bón vô cơ, hữu cơ và phân bón khác cho các tổ chức, cá nhân theo quy định. Việc cấp phép sẽ giúp cơ quan có thẩm quyền quản lý phân bón nắm được các tổ chức, cá nhân được phép sản xuất phân bón trên địa bàn do mình quản lý để tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra theo quy định.


Cùng với việc tiếp tục tăng cường đẩy mạnh các giải pháp đấu tranh ngăn chặn phân bón giả, kém chất lượng trong thời gian tới, Bộ Công Thương tiếp tục chỉ đạo và hướng dẫn lực lượng Quản lý thị trường cả nước tăng cường công tác quản lý địa bàn; tiến hành rà soát và đề xuất, kiến nghị Chính phủ và các Bộ, ngành có thẩm quyền tiếp tục hoàn thiện thể chế thực thi, cơ chế phối hợp, nâng cao chế tài xử phạt, từ đó, huy động tối đa nguồn lực của các lực lượng thực thi trong việc phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn hàng giả, hàng kém chất lượng hiệu quả hơn.


Câu 5: Xin Bộ Công Thương thông tin về công tác điều hành giá xăng dầu của Liên Bộ Công Thương – Tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu thời gian qua?


Trả lời:


Theo quy định tại Khoản 9 Điều 3 Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, giá cơ sở là căn cứ để cơ quan quản lý nhà nước điều hành giá bán lẻ xăng dầu trong nước.


Giá cơ sở bao gồm các yếu tố và được xác định bằng (=) {Giá CIF cộng (+) Thuế nhập khẩu cộng (+) Thuế tiêu thụ đặc biệt} nhân (x) Tỷ giá ngoại tệ cộng (+) Thuế giá trị gia tăng cộng(+) Chi phí kinh doanh định mức cộng (+) mức trích lập Quỹ Bình ổn giá cộng (+) Lợi nhuận định mức cộng (+) Thuế bảo vệ môi trường cộng (+) Các loại thuế, phí và các khoản trích nộp khác theo quy định của pháp luật hiện hành. Trong đó: Giá CIF được tính bằng (=) giá xăng dầu thế giới (giá Platt Singapore) cộng (+) các khoản chi phí để đưa xăng dầu từ nước ngoài về đến cảng Việt Nam. Các yếu tố này được xác định ở nhiệt độ thực tế. Trong đó, giá xăng dầu thế giới được được tính bình quân của 15 ngày sát với ngày tính giá của chu kỳ dự trữ xăng dầu bắt buộc.


Trong quá trình kinh doanh, các thương nhân kinh doanh xăng dầu đầu mối chủ động lựa chọn giá cả, thời điểm giao dịch mua bán xăng dầu trên thị trường thế giới, phù hợp và có lợi đối với hoạt động kinh doanh của mình. Giá thành phẩm xăng dầu thế giới biến động lên xuống hàng ngày; trường hợp doanh nghiệp chốt được giá mua xăng dầu trên thị trường thế giới vào thời điểm thấp hơn giá thành phẩm xăng dầu bình quân 15 ngày sát ngày tính giá thì doanh nghiệp có thể thu được kết quả kinh doanh tốt; trường hợp doanh nghiệp chốt giá mua xăng dầu trên thị trường thế giới vào thời điểm cao hơn giá thành phẩm xăng dầu bình quân 15 ngày sát ngày tính giá thì kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không thuận lợi.


Như vậy, trong cùng một chu kỳ kinh doanh, có thể doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu này bị lỗ nhưng doanh nghiệp khác kinh doanh có lãi, thậm chí có doanh nghiệp thu được lãi nhiều nếu thỏa thuận mua được xăng dầu trên thị trường thế giới với giá thấp, có chiến lược kinh doanh, hạch toán các chi phí kinh doanh một cách hợp lý… Tương tự, trong một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, có giai đoạn doanh nghiệp thu được lãi cao, có giai đoạn thu được lãi thấp, có giai đoạn bị lỗ, điều này thể hiện đúng quy luật thị trường.


Trong quá trình điều hành giá xăng dầu, Liên Bộ Công Thương – Tài chính đã tuân thủ đúng các quy định của Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu. Trên thực tế kinh doanh xăng dầu, các doanh nghiệp có giá vốn và chi phí khác nhau nên mức độ lỗ lãi cũng khác nhau.


Trong tháng 11 năm 2015, thực hiện quy định và căn cứ nguyên tắc tính giá cơ sở theo quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, Thông tư liên tịch số 39/2014/TTLT-BCT-BTC của Liên Bộ Công Thương – Tài chính quy định về phương pháp tính giá cơ sở; cơ chế hình thành, quản lý, sử dụng Quỹ Bình ổn giá và điều hành giá xăng dầu theo quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, Liên Bộ Công Thương – Tài chính đã có 02 đợt điều hành giá xăng dầu trong nước. Cụ thể:


1. Ngày 03 tháng 11 năm 2015, Liên Bộ Công Thương – Tài chính quyết định:


- Quỹ Bình ổn giá xăng dầu: Trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với xăng khoáng là 300 đồng/lít; Trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu khác như hiện hành.


- Sau khi thực hiện trích lập Quỹ Bình ổn giá như trên, điều chỉnh giảm giá các mặt hàng xăng dầu: Xăng RON 92 giảm 771 đồng/lít; Xăng E5 giảm 881 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S giảm 432 đồng/lít; Dầu hỏa giảm 481 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S giảm 316 đồng/kg.


Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá: Xăng RON 92 không cao hơn 17.232 đồng/lít; Xăng E5 không cao hơn 16.737 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S không cao hơn 13.513 đồng/lít; Dầu hỏa không cao hơn 12.523 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S không cao hơn 9.571 đồng/kg.


2. Ngày 18 tháng 11 năm 2015, Liên Bộ Công Thương – Tài chính quyết định:


- Quỹ Bình ổn giá xăng dầu: Trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đối với dầu diesel là 208 đồng/lít; Trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu khác như hiện hành.


- Sau khi thực hiện trích lập Quỹ Bình ổn giá như nêu trên, điều chỉnh giá các mặt hàng xăng dầu: Xăng RON 92 giảm 178 đồng/lít; Xăng E5 giảm 178 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S giảm 83 đồng/kg; Giữ nguyên giá bán hiện hành đối với dầu diesel; Dầu hỏa tăng 124 đồng/lít.


Như vậy, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường như sau: Xăng RON 92 không cao hơn 17.054 đồng/lít; Xăng E5 không cao hơn 16.559 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S không cao hơn 13.513 đồng/lít; Dầu hỏa không cao hơn 12.647 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S: không cao hơn 9.488 đồng/kg.


Câu 6: Vừa qua Bộ Công Thương đã triển khai hoạt động đưa hàng Việt đến với các siêu thị ở nước ngoài. Xin Bộ Công Thương cung cấp thông tin cụ thể về vấn đề này?


Trả lời:


Trong thời gian qua, Bộ Công Thương đã đưa hàng Việt đến với các siêu thị ở thị trường Hàn Quốc, Pháp, Đức. Thông tin cụ thể như sau:


1. Tại thị trường Hàn Quốc


a. Hoạt động đưa hàng Việt vào hệ thống Lotte Mart tại Việt Nam và Hàn Quốc


Nhằm góp phần thực hiện thành công Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và tăng cường xuất khẩu hàng Việt sang Hàn Quốc phục vụ người tiêu dùng Hàn Quốc và người tiêu dùng Việt Nam tại Hàn Quốc, Bộ Công Thương (đại diện là Báo Công Thương) đã phối hợp với Công ty Lotte mart Việt Nam và các đơn vị liên quan tổ chức Chương trình kết nối thương mại Việt Nam – Hàn Quốc (gọi tắt là Chương trình VK Conect). Chương trình là một hoạt động hợp tác công tư tự nguyện trong công tác hỗ trợ xúc tiến và truyền thông cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, góp phần đưa hàng Việt vào hệ thống Lotte Mart tại Việt Nam và Hàn Quốc. Sau 2 năm hợp tác tổ chức, Chương trình đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận, cụ thể:


Hoạt động năm 2014: Thông qua Triển lãm hàng Việt tiêu biểu tại siêu thị Lotte mart Nam Sài Gòn, Bình Dương và Đồng Nai từ ngày 25/7 – 3/8 (do Báo Công Thương phối hợp với Lotte Mart Việt Nam tổ chức), các chuyên gia thu mua của Lotte Mart và các nhà nhập khẩu Hàn Quốc đã lựa chọn được 101 mặt hàng tiêu biểu với kim ngạch xuất khẩu 250.000 USD để triển lãm tại hệ thống tại Hàn Quốc từ ngày 6 đến 12/11/2014.


Hàng Việt được trưng bày và bán trực tiếp cho người dân Hàn Quốc tại 7 siêu thị lớn (doanh thu bình quân mỗi tháng của từng siêu thị 8 – 10 triệu USD): Lotte mart World, Lotte mart ga seoul, Lotte mart Guro, Lotte mart Uiwang, Lotte mart Ansan, Lotte mart Kwangbok, Lotte mart sân bay Kimpo. Sản phẩm chủ yếu: hạt điều, tôm đông lạnh, cá khô, bánh phở, cà phê, thảm lau nhà, găng tay cao su, đồ nhà bếp, chăn, gối, ghế, móc áo, chậu nhựa…. Trong đó: thực phẩm tươi sống: 19 loại, thực phẩm chế biến: 29 loại, phi thực phẩm: 53 loại. Trong số đó có các hàng hóa mang thương hiệu thuần Việt như: cà phê Trung Nguyên, điều Yến Nhung, cà phê Con Sóc, bánh phở Bích Chi, bia 333, Vinamit, bánh phở Vifon, Kinh Đô… Sau lần triển lãm lần thứ nhất tại Lotte Mart tháng 11/2014, đến tháng 7/2015, theo báo cáo, Lotte Mart đã nhập khẩu hàng Việt đạt kim ngạch khoảng 1 triệu USD tại thị trường Hàn Quốc.


Hoạt động năm 2015: Chương trình lần 2 được tổ chức từ ngày 24 – 28 tháng 6 năm 2015 gồm: Hoạt động Triển lãm tại siêu thị Lotte Mart Nam Sài Gòn, tại đây các chuyên gia thu mua của Lotte Mart Hàn Quốc và các nhà nhập khẩu đã chọn ra 22 doanh nghiệp đạt chuẩn. Lotte Mart đã ký hợp đồng nhập khẩu phục vụ triển lãm từ ngày 29/10 đến 3/11/2015 tại Hàn Quốc với kim ngạch 750.000 USD.
Ngoài ra, tổ chức Hội thảo kết nối thương mại Việt Nam – Hàn Quốc ngày 25 tháng 6 năm 2015 tại Thành phố Hồ Chí Minh với sự tham gia của gần 250 đại biểu (trong đó có đại diện Tổng lãnh sự Hàn Quốc, Hiệp hội công nghiệp và thương mại (Kocham), Cơ quan xúc tiến Hàn Quốc (Kotra) tại Thành phố Hồ Chí Minh; Sở Công Thương, Trung tâm xúc tiến thương mại, Hiệp hội doanh nghiệp và các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh và các các tỉnh miền Đông Nam bộ…)


b. Tuần hàng Việt Nam tại Hàn Quốc


Ngày 8 tháng 6 năm 2015 tại Seoul, Hàn Quốc, Bộ Công Thương đã phối hợp với Tập đoàn Emart tổ chức khai trương Tuần hàng Việt Nam tại hệ thống siêu thị Emart – một trong số ít hệ thống siêu thị lớn của Hàn Quốc. Sự kiện diễn ra từ ngày 9 đến 11 tháng 6 năm 2015. Đây là lần đầu tiên Bộ Công Thương tổ chức Tuần hàng ở hệ thống siêu thị Emart của Hàn Quốc. Các sản phẩm Việt Nam được trưng bày tại đây rất đa dạng, bao gồm hàng dệt may như quần áo, khăn mặt, quần áo thể thao, mũ; giày dép; trái cây tươi như thanh long; hàng hải sản như mực đông lạnh, cá bò khô; các sản phẩm từ gạo, cà phê, đồ nội thất như bàn ghế ăn, bàn ghế ngoài trời… Ngay tại buổi lễ, nhiều mặt hàng Việt Nam đã nhận được sự quan tâm, mua hàng của người tiêu dùng Hàn Quốc.


Sau Lễ khai mạc, Lãnh đạo Emart và các nhà nhập khẩu của Emart đã có buổi làm việc với đại diện Lãnh đạo Bộ Công Thương. Các nhà nhập khẩu đã nêu, trao đổi về các khó khăn mà doanh nghiệp mình gặp phải trong hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam (về thiết kế mẫu mã hàng hóa bị sao chép làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, khó khăn của doanh nghiệp khi xin giấy chứng nhận xuất xứ, các vấn đề liên quan tới an toàn vệ sinh thực phẩm, đảm bảo xử lý nguyên liệu thủy sản bằng nguồn nước sạch…) và mong muốn tìm kiếm cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam để xuất khẩu sang Hàn Quốc như ghế sofa, các chế phẩm từ gạo và các mặt hàng nông lâm sản.


2. Tại thị trường Pháp


Nối tiếp thành công của “Tuần hàng Việt Nam tại Pháp” năm 2011, ngày 22 tháng 9 năm 2014, tại siêu thị Casino Saint Didier (ở quận 16, Paris) khai mạc “Tuần hàng Việt Nam tại Pháp” do Bộ Công Thương phối hợp với Tập đoàn Casino – Pháp tổ chức. Sự kiện này nhằm quảng bá, tăng cường xuất khẩu trực tiếp hàng Việt Nam vào các hệ thống phân phối của châu Âu, đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng châu Âu bằng con đường ngắn nhất. Trong suốt thời gian tổ chức “Tuần hàng Việt Nam tại Pháp”, nhiều mặt hàng của Việt Nam từ hoa quả, hải sản, tôm cá đông lạnh cho tới nem cuốn sẵn, các loại đồ khô như bún, phở, mỳ tôm … được bày bán tại siêu thị Casino Saint Didier.


Hiện tại, tiếp tục phối hợp với Tập đoàn Casino, Bộ Công Thương đang xây dựng triển khai Tuần hàng Việt Nam tại Pháp, dự kiến tại Paris vào tháng 6 năm 2016.


3. Tại thị trường Đức


Từ năm 2012, Bộ Công Thương đã triển khai tổ chức Tuần hàng Việt Nam tại hệ thống siêu thị Metro tại Đức từ ngày 31/5-07/6/2012. Tham gia chương trình, doanh nghiệp Việt Nam được trưng bày sản phẩm tại 117 siêu thị của tập đoàn Metro Cash & Carry trên khắp nước Đức.


Cuối tháng 6 năm 2014, Bộ Công Thương tiếp tục phối hợp với Tập đoàn Metro Cash & Carry tổ chức “Những ngày hàng Việt tại CHLB Đức”, góp phần giúp nhiều hàng hóa của Việt Nam, đặc biệt là hàng nông sản bước đầu thâm nhập thị trường nước Đức.


Câu 7: Ngày 01/12, xăng sinh học E5 chính thức được triển khai bán đồng loạt trên toàn quốc theo Quyết định số 53/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22 tháng 11 năm 2012 về việc ban hành lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống. Theo Quyết định này, Bộ Công Thương được giao làm đầu mối triển khai. Vậy, công tác này đã được thực hiện như thế nào?


Trả lời:


Nhằm thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nhiên liệu sinh học, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Quyết định số 53/2012/QĐ-TTg năm 2012 (Lộ trình) trong đó quy định chi tiết về thời gian, tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại các địa phương trên cả nước. Theo Quyết định này xăng sinh học E5 sẽ được triển khai thí điểm từ ngày 01 tháng 12 năm 2014 tại 07 tỉnh bao gồm: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Bà Rịa - Vũng Tàu và bắt đầu triển khai trên toàn quốc từ ngày 01 tháng 12 năm 2015.


Tiếp Đại sứ Mexico tại Việt Nam và Tổng giám đốc Cơ quan XTTM&ĐT Mexico ProMexico
Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã cùng các bộ Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Nông nhiệp và Phát triển nông thôn, Khoa học và Công nghệ và các địa phương chỉ đạo quyết liệt các doanh nghiệp triển khai thực hiện Lộ trình và đã thu được một số kết quả quan trọng, cụ thể là:


1. Tình hình sản xuất, kinh doanh xăng E5 tại các địa phương và các đầu mối kinh doanh xăng dầu


a. Tình hình sản xuất, kinh doanh xăng E5 tại các đầu mối kinh doanh xăng dầu


Các doanh nghiệp đầu mối lớn về kinh doanh xăng dầu như Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố Hồ Chí Minh - Sài Gòn Petro đã chủ động triển khai thực hiện Lộ trình, thực hiện đầu tư trang bị bồn, bể, phương tiện phối trộn, tồn trữ, vận chuyển phù hợp cho kinh doanh xăng E5 RON92.


Theo báo cáo của các đầu mối kinh doanh xăng dầu, hiện nay có 05 doanh nghiệp tổ chức sản xuất, pha chế xăng E5 là: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, Công ty TNHH một thành viên Dầu khí thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội, Công ty Xăng dầu và dịch vụ hàng hải S.T.S, Công ty TNHH Thương mại & dịch vụ tổng hợp Hòa Khánh.


Có thể thấy sau 3 năm, số cửa hàng kinh doanh xăng E5 trên cả nước đạt gần 800 trong khi tại Thái Lan sau 13 năm kể từ năm 1991 đến năm 2004 mới chỉ có 300 cửa hàng.


b. Tình hình kinh doanh xăng E5 tại các địa phương


Từ việc kiểm tra thực tế và theo báo cáo của các địa phương, xăng E5 đã được kinh doanh rộng rãi tại 07 tỉnh mục tiêu theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Hà Nội, Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cần Thơ và bước đầu mở rộng ra các địa phương khác.


* Về lộ trình triển khai thực hiện phân phối xăng sinh học E5 RON92


Các địa phương thuộc các tỉnh mục tiêu của Quyết định số 53/2012/QĐ-TTg là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Bà Rịa - Vũng Tàu và một số địa phương khác đã tích cực triển khai đưa xăng E5 RON 92 vào lưu thông trên thị trường.


Sau thời gian triển khai đã đạt được một số kết quả ban đầu: số cửa hàng bán xăng E5 tăng lên, tỷ lệ cửa hàng bán xăng E5 ở các tỉnh khác nhau (7% ở Hải Phòng; 97% ở Quảng Ngãi). Các địa phương đi đầu trong việc triển khai phân phối xăng E5 là Quảng Ngãi, Đà Nẵng. Quảng Nam là địa phương không thuộc các tỉnh mục tiêu của Quyết định 53/2012/QĐ-TTg nhưng cũng đã tích cực triển khai thực hiện và thu được các kết quả tốt. Thành công bước đầu ở Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Quảng Nam là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xăng dầu cùng với yếu tố thuận lợi là các địa phương này gần nguồn cung xăng E5 RON 92. Các địa phương còn lại kết quả thu được còn hạn chế, việc triển khai các địa phương này còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, các địa phương đều đã có kế hoạch triển khai trong thời gian tới.


Nhiều địa phương khác cũng đã và đang triển khai tích cực đưa xăng E5 vào lưu thông trên thị trường theo đúng Lộ trình bằng việc chuẩn bị các cơ sở vật chất, ban hành kế hoạch hành động. Các địa phương đã ban hành kế hoạch hành động để triển khai Chỉ thị 23/CT-TTg và Quyết định số 53/2012/QĐ-TTg. Trong kế hoạch hành động các nội dung về truyền thông về nhiên liệu sinh học ở địa phương, kế hoạch pha chế và phân phối xăng E5 và chỉ đạo các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn bắt buộc sử dụng xăng E5 được chú trọng. Tiêu biểu trong các địa phương là Thừa Thiên – Huế, Lào Cai, Lâm Đồng, Phú Yên, Bình Phước, Hà Tĩnh, Đắk Lắk Đắk Nông, Kon Tum... Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế đã tổ chức hội nghị triển khai phân phối xăng sinh học E5 vào tháng 9 năm 2015. Lào Cai và Lâm Đồng dự kiến sẽ tổ chức hội nghị triển khai phân phối xăng sinh học E5 trong tháng 11 năm 2015.


* Công tác kiểm tra kiểm soát đảm bảo chất lượng xăng E5


Để đảm bảo sản phẩm xăng sinh học E5 với chất lượng được quản lý chặt chẽ theo đúng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia khi đưa ra tiêu thụ trên thị trường, ngay sau khi ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với nhiên liệu sinh học, các cơ quan chức năng đã tổ chức việc chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy cho sản phẩm và liên tục thực hiện việc kiểm tra định kỳ, đột xuất để giám sát việc tuân thủ trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Kết quả kiểm tra định kỳ và đột xuất cho thấy không có vi phạm nào trong việc bảo đảm chất lượng sản phẩm E5.


Trong suốt thời gian kể từ khi xăng sinh học E5 được đưa vào kinh doanh trên thị trường, chưa có một khiếu kiện nào của người tiêu dùng liên quan đến vấn đề chất lượng xăng E5.


* Về công tác truyền thông và thái độ của người tiêu dùng và các đại lý, cửa hàng bán lẻ xăng dầu


Để cung cấp đầy đủ thông tin về chương trình phát triển nhiên liệu sinh học, tạo sự đồng thuận trong xã hội Bộ Công Thương đã chủ động phối hợp với các cơ quan truyền thông tuyên truyền, quảng bá, nâng cao nhận thức về nhiên liệu sinh học. Bộ cũng đã tổ chức thực hiện Đề án tuyên truyền về nhiên liệu sinh học, xăng E5. Nội dung Đề án bao gồm các bài viết: phỏng vấn Lãnh đạo các Bộ, ngành liên quan; vai trò của nhiên liệu sinh học trong kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường, kết quả thực hiện và kinh nghiệm triển khai sản xuất kinh doanh xăng E5 tại các đơn vị; nhiên liệu sinh học với an ninh năng lượng; hành vi tiêu dùng xăng E5 và nhiên liệu sinh học. Đề án được thực hiện từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 10 năm 2016. Bộ Công Thương tiếp tục phối hợp với các địa phương triển khai truyền thông về nhiên liệu sinh học và xăng E5 thông qua các hội nghị hội thảo và phổ biến kiến thức về xăng E5 thông qua sử dụng tài liệu “Cẩm nang xăng sinh học”.


Các địa phương, các đầu mối kinh doanh xăng dầu đã tích cực triển khai tuyên truyền đến người tiêu dùng về lợi ích của xăng E5. Tuy nhiên về thái độ của người tiêu dùng ở các địa phương còn khác nhau. Tại các đại phương như Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Quảng Nam người tiêu dùng đã chấp nhận sử dụng xăng E5 mà không phân biệt so với xăng khoáng. Tại các địa phương khác như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu người tiêu dùng còn e ngại khi sử dụng xăng E5.


2. Đánh giá tình hình thực hiện Lộ trình


Như vậy có thể nói sau 07 năm kể từ khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển nhiên liệu sinh học, ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học nước ta đã bước đầu hình thành với các cơ sở sản xuất nhiên liệu sử dụng nguyên liệu là các sản phẩm nông nghiệp, hệ thống phân phối sản phẩm, hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, các cơ chế chính sách liên quan cũng như nhận thức của cộng đồng xã hội. Để đánh giá hiệu quả kinh tế của một ngành cần phải dựa trên nhiều yếu tố nhưng đánh giá tổng quát có thể thấy việc sản xuất nhiên liệu từ nông sản làm tăng giá trị gia tăng của nông sản, tạo đầu ra ổn định của sản phẩm nông nghiệp, tránh tình trạng xuất khẩu bị phụ thuộc vào thị trường nước ngoài và luôn bị thua thiệt do bị ép giá. Việc thay thế một phần nhiên liệu truyền thống cũng đã góp phần giảm nhập khẩu sản phẩm xăng dầu, tiết kiệm ngoại tệ. Việc thay thế nhiên liệu truyền thống bằng nhiên liệu sinh học cũng góp phần tích cực vào việc giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ môi trường.


Cũng như các loại nhiên liệu khác, nhiên liệu sinh học khi đi vào cuộc sống cũng phải tuân theo quy luật của kinh tế thị trường cho nên tại từng thời điểm, đối từng dự án cụ thể, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa được như kỳ vọng do phải vượt qua các thách thực trở ngại của quá trình phát triển. Chính vì vậy cần phải có chính sách phù hợp và thống nhất để đạt được mục tiêu tổng quát.


Thực hiện Quyết định số 53/2012/QĐ-TTg các Bộ ngành đã tích cực chỉ đạo, phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu thực hiện các nhiệm vụ được giao như: Về kinh doanh xăng dầu nói chung và xăng E5 nói riêng; về tuyên truyền; rà soát hoạt động của các nhà máy sản xuất ethanol nhiên liệu; kiểm tra, giám sát, đôn đốc các địa phương, các thương nhân kinh doanh xăng dầu đảm bảo sử dụng, phối trộn, phân phối xăng sinh học.


Các địa phương đã khẩn trương triển khai các kế hoạch, các giải pháp về truyền thông về nhiên liệu sinh học ở địa phương; kế hoạch pha chế và phân phối xăng E5; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn bắt buộc sử dụng xăng E5.


Các doanh nghiệp đầu mối đã tích cực triển khai thực hiện: xây dựng các trạm pha chế, phối trộn xăng E5, mở rộng mạng lưới cửa hàng bán lẻ xăng E5; Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc kinh doanh xăng dầu rà soát tiến độ phát triển các cửa hàng bán lẻ xăng E5 tại địa phương. Các kết quả đạt được là rất khả quan, tuy nhiên cũng xuất hiện nhiều khó khăn.


Từ hiện trạng sản xuất và kinh doanh xăng E5 và các thuận lợi, khó khăn đang tồn tại trong thực tế triển khai phân phối xăng E5, Bộ Công Thương đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ ngành thực hiện các giải pháp như sau:


- Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành tiếp tục nghiên cứu cơ chế ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp sản xuất ethanol; cơ chế về giá cho E100; giá, thuế các loại đối với E5.


- Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan đẩy mạnh công tác truyền thông về nhiên liệu sinh học ở phạm vi quốc gia, khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học nói chung, xăng E5, E10 nói riêng, trong đó cần làm rõ lợi ích của việc sử dụng nhiên liệu sinh học, khẳng định về chất lượng, kỹ thuật để người tiêu dùng yên tâm sử dụng nhiên liệu sinh học;


- Các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu ban hành cơ chế bắt buộc sử dụng xăng E5 đặc biệt đối với các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước.


- Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn xăng dầu Việt Nam các đơn vị liên quan chủ động tạo nguồn E100 và nghiên cứu cơ chế tạo nguồn E100 ổn định gửi Bộ Công Thương trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.


Theo Trang TTĐT Bộ Công Thương
 

More